vophubong.blogspot.com

Wednesday, June 26, 2013

GIỞN TUYẾT RƠI

TỰ KỶ




Đã mấy năm qua hụt hẫng đời
Thăng bằng cố giữ, mạng rong chơi
Vần thơ tìm ý quên sầu ám
Câu chữ qua ngày đổi khổ vơi
Lạm tiếng thày trò mươi tử de
Giao tình thi hữu bốn phương trời
Thời gian thuốc đắng chờ quên lãng
Canh cánh vàng thu lá lại rơi.



Cao Linh Tử



GIỞN TUYẾT RƠI [họa]


Quẩy gánh thơ đi giữa chợ đời,

Lãng quên ngày tháng cứ rong chơi

Rựợu nồng một hủ ...thôi say khướt,

Thơ thẩn dăm vần ...há dễ vơi...

Canh bạc trần ai - thương dậu đổ

Ván cờ nhân thế - giận mây trời

Đầu thu nhắp chén hoàng hoa tửu

Mà ngở mình say giởn tuyết rơi...

voduonghonglam

Saturday, June 22, 2013

BEN DONG SAC KHONG [tiep theo]


Đêm nằm lắng giọt vô ưu ,
Tay nghiêng hạt bụi chân như hiện về.





Hồng trần chìm nỗi si mê,
Khói sương lãng đãng nẽo về hằng sa…


Mắt em ngàn cõi di đà,
Tay em bạch ngọc giũ tà huy bay.

Trăng vàng chìm lắng non tây,
Mây hương bàng bạc hạc bay về ngàn…




Đố ai quét sạch lá vàng ,
Thì ta múc ánh trăng ngàn đổ đi,
Đố ai nhặt hết tình si,
Thì ta xin chịu làm thơ tặng người.


Một cành hương sắc cho đời ,
Một bông hoa thắm cho người tình chung.
Em về hong tóc bên sông,
Thì ta theo gió bềnh bồng nước may...
 
vophubong [voduonghonglam]
 
 

Thursday, June 20, 2013

CHUYEN VUI CUOI TUAN



CON KHỈ GIÀ
Một cặp vợ chồng già, đã gần đất xa trời mà còn dẫn nhau ra tòa xin ly dị.
Quan tòa hỏi:
- Hai ông bà đã già quá rồi, sao không sống chung với nhau cho có bạn mà đòi ly dị?
Bà vợ già trả lời:
- Thưa quý tòa. Tôi không thể nào sống chung với ông ấy vì đã có lần ông ấy nói tôi giống như con khỉ già.
Quan tòa cố nhịn cười hỏi:
- Thế câu chuyện đã xảy ra bao lâu rồi?
- Thưa đã hơn hai mươi năm.
Quan tòa ngạc nhiên:
- Đã hơn hai mươi năm mà bây giờ mới đưa nhau ra tòa?
Bà vợ già trả lời:
- Thưa, khi còn ở Việt Nam, ngày tối tôi phải lo việc bếp núc, không được đi đây đó. Qua Mỹ, tôi được đứa cháu nội đẫn đi sở thú, tôi mới biết mặt con khỉ già như thế nào.

Phan Luc suu tam

Sunday, June 16, 2013

DAI NAM SU KY TOAN THU


Kỷ Hồng Bàng Thị
Triều liệt Đại Phu, Quốc Tử Giám Tư Nghiệp, kiêm Sử Quan tu soạn, Thần Ngô Sĩ Liên biên

Xét:
Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị1 đến ở Nam Giao2 để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu3 thì Bách Việt4 thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN] mới gọi là Việt Thường thị, tên Việt bắt đầu có từ đấy.

Kinh Dương Vương

[1b]Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông6.
Nhâm Tuất, năm thứ nhất7. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế
Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh8 lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long9 sinh ra Lạc Long Quân (Xét: Đường kỷ chép:thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi).
------------------Chú thích ------------------

1 Hy thị: Tương truyền vua Nghiêu sai anh em họ Hy (Hy thị) và họ Hòa (Hòa thị) đi bốn phương để trông coi công việc thiên văn lịch pháp. Hy Thúc là em Hy Trọng đến ở miền đất phương Nam (Kinh Thư, Nghiêu điển)
2 Kinh Thư chép vua Nghiêu sai Hy Thúc đến ở Nam Giao (Hy Thúc trạch Nam Giao). Khổng An Quốc thời Tây Hán chú giải Kinh Thư, chỉ cho Nam Giao là phương Nam. Mãi đến thời Đường, Tư Mã Trinh mới giải thích Nam Giao là Giao Chỉ ở phương Nam.
3 Theo thiên Vũ Cống trong Kinh Thư, chín châu là Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương Ung.
4 Bách Việt: là từ mà người Hán dùng để gọi chung các tộc người khác Hán sống ở miền nam Trung Quốc thời xưa. Từ này lần đầu tiên thấy chép trong Sử Ký (Ngô Khởi Truyện của Tư Mã Thiên.
5 Việt Thường Thị: tên nước thời cổ ở phía Nam Trung Quốc có quan hệ với nhà Chu (hiến chim trĩ cho Thành Vương), lần đầu tiên được ghi trong sách Thượng Thư Đại Truyện. Có nhiều giải thích khác nhau, có thuyết nói rằng Việt Thường Thị ở miền quận Cửu Đức, tức miền Hà Tĩnh (Thủy Kinh Chú, Cựu Đường Thư); có thuyết nói Việt Thường thị ở vị trí nước Lâm Ấp đời sau (Văn Hiến thông khảo, Minh Sử, Minh nhất thống chí).
6 Thần Nông: theo truyền thuyết Trung Quốc, là một trong 5 vị đế thời thượng cổ, dạy dân biết cày bừa trồng trọt, cũng gọi là Viêm Đế.
7 Theo Mục lục kỷ niên của Đại Việt Sử Ký và câu kết của Kỷ Hồng Bàng thị (NK1, 5b) thì từ năm Nhâm Tuất đến năm Quý Mão (258 TCN) cộng 2622 năm. Vậy năm Nhâm Tuất là năm 2879 TCN. Đó chỉ là một niên đại suy đoán trên cơ sở - như trong Phàm lệ đã nói rõ - muốn đặt Kinh Dương Vương ngang với Đế Nghi.
8 Ngũ Lĩnh: có nhiều thuyết khác nhau, đại khái chỉ 5 ngọn ở biên giới phía nam của Trung Quốc. Theo Quảng Châu ký, đó là các núi: Đại Dũ, Thủy An, Lâm Hạ, Quế Dương, Yết Dương.
9 Nguyên văn: "Thú Động Đình Quân nữ, viết Thần Long". Theo câu này thì phải hiểu Thần Long là tên người con gái của Động Đình Quân. Nhưng ở đoạn dưới (tờ 2b), soạn giả lại viết: "Kinh Dương Vương lấy con gái của Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân". Như vậy tên của Động Đình Quân là Thần Long.
-------------------------------------------------

Lạc Long Quân

[2a] Tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương.
Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng), là tổ của Bách Việt.
Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng:
"Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó".
Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khí hóa ra, đó là Bàn Cổ thị. Có khí hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai khí âm dương cả. Kinh Dịch nói: "Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh"10. Cho nên có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi. [2b] Nhưng thánh hiền sinh ra, tất có khác thường, đó là do mệnh trời. Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra nhà Thương11, giẫm vết chân người khổng lồ mà dấy nhà Chu12, đều là ghi sự thực như thế. Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông Giám Ngoại kỷ13 nói: Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà như thế chăng?
------------------Chú thích ------------------
10 Kinh Dịch: Hệ từ.
11 Truyền thuyết Trung Quốc nói là bà Giản Địch (vợ thứ Đế Cốc) nuốt trứng chim huyền điểu, có mang, sinh ra ông Tiết, tổ của nhà Ân - Thương.
12 Bà Khương Nguyên giẫm vết chân người khổng lồ, sinh ra ông Khi, tức Hậu Tắc, tổ nhà Chu.
13 Thông giám ngoại kỷ: tức phần Ngoại Kỷ của sách Tư Trị Thông Giám (294 quyển) do Tư Mã Quang đời Tống soạn.
------------------------------------------------

Friday, June 14, 2013





Vợ chồng cắn đắn chuyện không đâu
Mười mấy năm xa để khổ sầu
Con nọ lớn dần quên phụ tử
Tình kia dứt hẳn rã cau trầu
Giải buồn chai rượu làm bầu bạn
Ngả quỵ quan tài liệm bể dâu
Vuốt mặt quy hồi thôi nghĩa tận
Bây giờ nhang khói muộn mưa ngâu.


Cao Linh Tử






Hỏi
Hỏi cánh chim trời bay mãi đâu
Mà sao vương lại tiếng than sầu?
Kiếp đời bàng bạc loang màu phấn
Duyên nghiệp the the đọng vị trầu
Đêm gió ru trăng soi suốt vải
Ngày mây gom nắng ánh nương dâu
Tháng năm vùn vụt trôi xa mất
Chỉ để sụt sùi tiếng khóc Ngâu!









Rảnh rang ngồi tưởng chuyện không đâu
Ông nọ,bà kia thấy phát rầu
Nhà ai sáng tối thay mặc xác
Bới móc chày đâm dập bả trầu
Vổ bồn sẳn rượu kia bầu bạn
Thước thợ nào đo cảnh bể dâu
Cắt gọt chuốc bào năng đục đẽo
Trời già sao nở đoạn mưa ngâu

Namphong



CHUYỆN HÀNG XÓM ĐỜI NAY



Chuyện non chuyện nước có xa đâu
Chuyện mấy ngàn năm mãi vẵn sầu
Duyên cũ xót xa lòng hữu nghị
Tình nay hổ thẹn nghĩa vôi trầu
Biển đông người vẽ đường tranh cãi
Ải bắc quân nào chiếm bãi dâu
Mau trở lại - đừng vào tuyệt lộ
Trời Nam Hổ phục với Long chầu...
vophubong