Thursday, July 17, 2014

Hoa Kỳ kết liễu sự mập mờ của Trung quốc về đường chín đoạn

Hoa Kỳ kết liễu sự mập mờ của Trung quốc về đường chín đoạn

Tất cả những tuyên bố chủ quyền từ “đường chín đoạn” của Trung quốc mà không dựa trên các quyền chủ quyền trên đất liền đều trái với luật pháp quốc tế. Cộng đồng thế giới yều cầu Trung quốc phải giải thích, nếu không thì phải điều chỉnh những tuyên bố chủ quyền dựa trên đường chín đoạn để tuân thủ theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.”

Lần đầu tiên Hoa Kỳ đã bày tỏ một cách rõ ràng rằng đường chín đoạn do Trung quốc và Đài loan vẽ ra trên Biển Đông là trái với luật pháp quốc tế. Trong buổi tường trình trước Uỷ Ban Đối Ngoại của Quốc hội Hoa Kỳ, trợ lý ngoại trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương Danny Russel đã nói: “Theo luật pháp quốc tế, các đòi hỏi chủ quyền ở biển Biển Đông  phải dựa trên các yếu tố từ đất liền.

Tất cả những tuyên bố chủ quyền từ “đường chín đoạn” của Trung quốc mà không dựa trên các quyền chủ quyền trên đất liền đều trái với luật pháp quốc tế. Cộng đồng thế giới yều cầu Trung quốc phải giải thích, nếu không thì phải điều chỉnh những tuyên bố chủ quyền dựa trên đường chín đoạn để tuân thủ theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.”

Với diện tích rộng hơn 1,4 triệu dặm vuông, Biển Đông có hàng trăm các đảo và quần đảo nhỏ, các rặng san hô mà phần lớn là không có người ở hay không đủ điều kiện sinh sống. Trung quốc thừa hưởng ý tưởng về đường chín đoạn từ chính quyền quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch, đó là một đường vẽ mập mờ bao quanh tất cả các hòn đảo ở Biển Đông mà vùng nước trong đó Trung quốc đòi hỏi chủ quyền. Dựa theo Công Ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (U.N. Convention on the Law of the Sea - UNCLOS) được thương thảo vào những năm 70 và  80, các quốc gia ven biển được yêu sách quyền độc quyền  khai thác các nguồn tài nguyên ngư nghiệp và khoáng sản trong “vùng đặc quyền kinh tế” (Exclusive Economic Zones -  EEZ), đó là vùng nước rộng 200 hải lý tính từ bờ biển hay xung quanh các hòn đảo có người ở. Không có điều luật nào trong công ước UNCLOS cho phép đòi hỏi quyền chủ quyền mà không dựa vào nguyên tắc tính từ đất liền này. Dựa trên nguyên tắc này của UNCLOS, Hoa Kỳ xem các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông mà không dựa trên các hòn đảo có người sinh sống là hoàn toàn vô giá trị.  Tuyên bố của trợ lý ngoại trưởng Russel đã làm rõ luận điểm này của Hoa Kỳ.
 
 
 
Có thể thấy rõ sự quan tâm của Hoa Kỳ dưới chính quyền của Tổng thống Obama đến tình hình Biển Đông. Chỉ dấu đầu tiên của sự quan tâm đó là tuyên bố được biết đến rộng rãi của Ngoại trưởng Clinton tại một hội nghị quốc tế tại Hà nội vào năm 2010, trong đó bà nêu ra các nguyên tắc trong chính sách của Hoa Kỳ ở Biển Đông: đó là tôn trọng tự do hàng hải, giải quyết các bất đồng một cách hoà bình, tự do thương mại, thương thuyết để tiến tới thành lập một Bộ Qui Tắc Ứng Xử (Code of Conduct – COC) nhằm giải quyết các bất đồng và vấn đề liên quan ở đây là các đòi hỏi chủ quyền vùng ở các vùng biển phải dựa trên các chủ quyền hợp pháp trên đất liền. Tuyên bố của bà Clinton đã đụng chạm đến một chủ đề rất mập mờ mà trước đó ít được nhắc đến, nó làm cho Biển Đông trở thành một điểm nóng về ngoại giao, một chủ đề tranh luận giữa các nhà phân tích và các chuyên gia về an ninh quốc gia và trong một vài trường hợp, nó làm cơ sở cho các tranh cãi của các bên đang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Trong khi các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei nhiệt liệt ủng hộ tuyên bố này làm Trung quốc rất tức giận.
 
Ngoại trưởng Clinton đã đưa ra tuyên bố này để phản hồi cho những bất an ngày một gia tăng giữa các nước láng giềng của Trung quốc về việc nước này đang ngày càng mạnh bạo hơn trong các đòi hỏi chủ quyền thông qua các phương cách chính trị và quân sự trong một môi trường thiếu vắng các cơ chế ngoại giao để làm giảm thiểu các căng thẳng. Trong khoảng giữa năm 1994 và 1995 đã có một giai đoạn căng thẳng tương tự khi Trung quốc tiến hành xây dựng các công trình ở rặng san hô Mischief nằm trong quần đảo Trường Sa mà Philippines tuyên bố chủ quyền. Những đổ vỡ  mang tính hệ quả trong mối quan hệ giữa Trung quốc và các nước Đông Nam Á đã làm cho các lãnh đạo Trung quốc khi ấy mà dẫn đầu là ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham phải thương thảo với các nước ASIAN một bản Tuyên Bố Ứng Xử (Declaration of Conduct – DOC) và một cam kết rằng các bên sẽ không có những hành động làm thay đổi nguyên trạng. Mặc dù thỉnh thoảng vẫn xảy ra những vụ tấn công tàu cá do một trong các bên hoặc một trong những quốc gia liên quan mà chủ yếu là Việt Nam cho phép các công ty thăm dò dầu khí trong vùng tranh chấp, những biến cố này đã không châm ngòi cho các cảnh báo chiến tranh.
 
Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây đã có những lo ngại gia tăng trong vùng và ngay tại Hoa Kỳ là Trung quốc đã không còn thích thú với các giải pháp ngoại giao nữa mà nay đang quay sang sử dụng các phương cách quân sự và luật pháp để thúc đẩy các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Các tuyên bố nhắm vào giới ngoại giao Hoa Kỳ là Trung quốc xem Biển Đông như một “quyền lợi cốt lõi” mà liên quan nó, Trung quốc sẽ không chấp nhận sự can thiệp làm tăng căng thẳng từ bên ngoài. Trong năm 2012, Trung quốc đã xua đuổi ngư dân Philippines ra khỏi ngư trường truyền thống của họ nằm xung quanh bãi cạn Scarborough nằm cách các đảo lớn của Philippenes ít hơn 125 dặm rồi từ đó cho cảnh sát biển liên tục kiểm soát. Cũng trong năm 2012, Trung quốc thiết lập một đơn vị hành chánh và quân sự bao gồm nhiều phần của quần đảo Hoàng sa. Ngay khi vừa thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông vào cuối năm 2013, người phát ngôn bộ ngoại giao Trung quốc tuyên bố ý định thành lập một vùng nhận dạng phòng không tương tự ở Biển Đông chắc chắn sẽ chồng lấn với ít nhất vài khu vực đã được thiết lập bởi các nước khác.
  
Biển Đông là một vấn đề phức tạp đối với Hoa kỳ. Chúng ta không có đòi hỏi nào trong vùng đó. Chúng ta đã không và sẽ không nên ngả theo phe nào trong các tuyên bố chủ quyền. Cho dù bất kỳ nước nào thiết lập được khả năng phát huy sức mạnh từ các đảo ở Biển Đông cũng sẽ khó lòng mà đe doạ được tàu bè và quân đội Hoa kỳ hoạt động trong vùng. Mặc dù có những đánh giá về tiềm năng dầu hoả và khí đốt, khả năng khai thác thương mại là không thể trong tương lai gần.
 
Tuy nhiên, Hoa kỳ có các mối quan tâm trọng yếu ở biển  Biển Đông. Đó là:
 
•    Để bảo đảm tự do hàng hải, không phải vì quyền lợi của bất cứ nước cụ thể nào mà đó là một quyền quốc tế quan trọng trong một khu vực mà 50% các tàu  chở dầu phải đi qua, một hải lộ lớn của kinh tế thế giới và là nơi mà các tàu hải quân Hoa kỳ được gửi đến và hoạt động thường xuyên theo luật pháp quốc tế. 
•    Để ngăn chặn việc sử dụng sức mạnh hay áp bức để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hay hàng hải.
•    Để bảo vệ cho việc tuân thủ các nguyên tắc và luật pháp quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề như vậy.
•    Để bảo đảm tất cả các quốc gia bao gồm Hoa Kỳ được quyền khai thác các nguồn lợi ngư nghiệp và khoáng sản bên ngoài các vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp.
•    Để ngăn chặn một đồng minh của Hoa Kỳ là Phillippenes khỏi bị bắt nạt hay bị tấn công bằng sức mạnh.
•    Để đảm bảo rằng quyền lợi của tất cả các quốc gia chứ không phải chỉ có nước lớn phải được tôn trọng.
 
Có những áp lực giữa các yếu tố khác nhau trong quyền lợi của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ không muốn thấy Trung quốc đạt được quyền kiểm soát trong khu vực thông qua việc áp bức. Nhưng cùng lúc, Hoa Kỳ không muốn Biển Đông trở thành nơi đối đầu hay xung đột giữa Mỹ và Trung quốc. Sự thách thức các đòi hỏi của Trung quốc nếu không tuân theo các thông lệ quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc của Hoa Kỳ có thể kích thích chủ nghĩa dân tộc Trung hoa và sự hoài nghi nhắm vào chủ đích của Hoa Kỳ và thậm chí kích thích các hành xử hung bạo hơn của Trung quốc trong vùng nhắm vào các bên tranh chấp khác nếu như Hoa Kỳ không có những đáp trả hiệu quả. Mặt khác, một Hoa kỳ thụ động sẽ làm lu mờ các quan tâm kể trên và sẽ làm cho các bên tranh chấp khác tin rằng Hoa Kỳ bỏ rơi họ và cả những nguyên tắc của mình, qua đó có thể làm cho chính sách “xoay trục” của chính quyền Obama về Châu Á trở thành trò hề làm mất đi sự đón nhận của khu vực đối với sự hiện diện và ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
 
Qua việc công khai không chấp nhận đường chín đoạn, trợ lý ngoại trưởng Russel và chính quyền Obama đã vạch ra một sự giới hạn đúng chỗ. Họ đã làm rõ là những phản đối của chúng ta dựa trên nguyên tắc, dựa trên luật pháp quốc tế chứ không phải chỉ để nhắm vào Trung quốc. Nếu cách tiếp cận của chúng ta với vấn đề Biển Đông vẫn tiếp tục dựa trên nền tảng của nguyên tắc và luật pháp quốc tế, Hoa Kỳ có thể đạt được những mục tiêu đề ra, bảo vệ quyền lợi của các bên tranh chấp mà không phải đối đầu với Trung quốc trong vấn đề chủ quyền.
 
Những việc gì khác mà Hoa Kỳ nên làm? Rất nhiều thứ:
 
•    Hoa Kỳ nên đảm bảo rằng cách tiếp cận của mình không bị xem là đơn phương. Đôi khi các quốc gia khác ngoài mặt thì im lặng nhưng bên trong vẫn ủng hộ. Chính quyền Hoa Kỳ nên làm rõ với các bên tranh chấp khác cũng như các nước ASIAN khác như Singapore và Thái Lan là chúng ta kỳ vọng ở họ một sự phản đối công khai đối với đường chín đoạn theo luật pháp quốc tế.  
 
•    Hoa Kỳ nên thảo luận với Đài Loan để làm rõ quan đểm của họ về đường chín đoạn, làm rõ rằng những đòi hỏi của họ phải dựa theo UNCLOS.
 
•    Hoa Kỳ nên tiếp tục nỗ lực cho việc đàm phán để tạo ra một Bộ Qui Tắc Ứng Xử (COC) giữa Trung quốc và các nước ASIAN như chúng ta đã và đang làm từ lúc ngoại trưởng Clinton thông báo về mục tiêu đó ở Hà nội. Thực tế là quyết định gần đây của Trung quốc và các nước ASIAN trong việc bắt đầu các cuộc đối thoại về COC là một thắng lợi từ tuyên bố của ngoại trưởng Clinton.
 
•    Hoa Kỳ nên khuyến cáo Trung quốc không thành lập bất cứ một vùng nhận dạng phòng không mới nào trên Biển Đông. Mặc dù việc làm rõ quan điểm về vấn đề này một cách công khai là cần thiết, các cuộc đối thoại ngoại giao kín dường như có tác dụng ảnh hưởng hơn với Bắc Kinh.
 
•    Hoa Kỳ nên thảo luận với tất cả các bên tranh chấp về những đồng thuận khả thi trong việc khai thác khoáng sản và ngư nghiệp mà không liên quan đến chủ quyền bao gồm việc hợp tác đầu tư giữa các công ty.
 
•    Thượng nghị viện nên chuẩn thuận UNCLOS. Điều đó sẽ cho phép Hoa Kỳ có thêm tính chính danh khi tham gia một cách chủ động và hiệu quả vào các quyết định về tương lai Biển Đông. Tất cả các ngoại trưởng tiền nhiệm của Hoa Kỳ đều ủng hộ một quyết định như vậy. Hải quân Hoa Kỳ cũng như các nguyên soái hải quân và tư lệnh Thái Bình Dương cũng như phần lớn các công ty Hoa Kỳ có liên quan cũng đều ủng hộ. Thay vì nói, chúng ta hãy bắt tay vào làm thôi.
 
Jeffrey A. Bader
 Liêm Nguyên dịch theo brookings.edu 
Bài đã được đăng tai Blog "Dr. Liem Nguyen" tại địa chỉ: http://drliemnguyen.blogspot.com/2014/06/hoa-ky-ket-lieu-su-map-mo-cua-trung.html
 

 

Saturday, July 12, 2014

Thượng Viện Hoa Kỳ Nhất Trí Kêu Gọi Trung Quốc Rút Giàn Khoan HD-981


Thượng Viện Hoa Kỳ Nhất Trí Kêu Gọi Trung Quốc Rút Giàn Khoan HD-981
Mạch Sống, ngày 11 tháng 7, 2014
Tối qua, 10 tháng 7, Thượng Viện Hoa Kỳ đã nhất trí thông qua Nghị Quyết S. Res. 412, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 cùng với lực lượng hải quân ra khỏi vùng biển đang hoạt động, và ngay lập tức trở về nguyên trạng như trước ngày 1 tháng 5.
Nghị quyết này, do Thượng Nghị Sĩ Robert Menendez (Dân Chủ, New Jersey) là tác giả, khẳng định chính sách của Hoa Kỳ ở Á Châu-Thái Bình Dương và lên án những hành động bá quyền hung hãn của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp với Nhật Bản, Phi Luật Tân và Việt Nam. TNS Menendez là Chủ Tịch Uỷ Ban Đối Ngoại của Thượng Viện.
"Việc thông qua Nghị Quyết này, trong bối cảnh chuyến công du Trung Quốc của Ngoại Trưởng John Kerry, là một thông điệp rõ ràng về chính sách gởi đến Trung Quốc và các quốc gia đang bị ảnh hưởng", Ts. Nguyễn Đình Thắng nhận định.
Theo Ông, các giới chức Hành Pháp Hoa Kỳ đã có một số phát biểu về các hành động bành trướng của Trung Quốc trong thời gian gần đây, nhưng thiếu sự nhất quán.
"Quốc Hội mới là nơi làm chính sách, và việc thông qua Nghị Quyết S. Res. 412 vào tối qua cho thấy Thượng Viện Hoa Kỳ cần khẩn trương đề ra chính sách của Hoa Kỳ về vấn đề ngày càng hệ trọng này."



Thúc đẩy Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua S. Res. 412 là một trong các mục tiêu của cuộc tổng vận động đang được thực hiện bởi Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ, mà cao điểm là ngày 16 tháng 7 tới đây.
Cuộc tổng vận động này có mục tiêu kép: Cùng lúc đẩy lùi sự xâm lấn của cộng sản Trung Quốc, và sự độc tài của chế độ cộng sản Việt Nam.
"Khi  chính quyền Việt Nam giùng giằng không dám hành động trước các động thái ngày càng hung hãn của Trung Cộng, chính người Việt ở hải ngoại đã hành động nhanh chóng, dứt khoát và cụ thể để cùng với toàn dân Việt Nam bảo vệ giang sơn gấm vóc," Ts. Thắng nhận xét. "Mọi người dân trong nước sẽ từ từ thấy rõ thực tế này và hiểu ra bản chất của chế độ."
Theo Ông, sự việc giàn khoan HD-981 bất ngờ đã cho thế giới tự do "cơ hội vàng" để áp lực Việt Nam cải thiện nhân quyền và bắt đầu tiến trình dân chủ hoá.
Tại buổi điều trần ở Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 9 tháng 7, Ts. Thắng kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ có thái độ cứng rắn và mạnh mẽ đối với Việt Nam ngay lúc này vì "không còn phải e ngại rằng Việt Nam sẽ ngả thêm về Trung Quốc" và vì Việt Nam đang rất cần phát triển các quan hệ mậu dịch với Hoa Kỳ để cứu vãn nền kinh tế đang rất bấp bênh và có thể đi vào khủng hoảng nếu tình trạng đối đầu với Trung Cộng leo thang.
Ông cho biết rằng tuần tới, người Việt đến từ nhiều thành phố Hoa Kỳ và Canada sẽ cùng nhau dốc sức vận động cho đạo luật về chính sách "chuyển trục"về Á Châu-Thái Bình Dương, các đạo luật nhân quyền cho Việt Nam, và đẩy lùi TPP cho Việt Nam.
"Buổi điều trần tại Hạ Viện ngày 9 tháng 7 và rồi việc thông qua Nghị Quyết S. Res. 412 ngay ngày hôm sau là những dấu hiệu rất khích lệ cho cuộc tổng vận động mang tính quyết định này", Ts. Thắng nhận định. "Chúng tôi kêu gọi đồng hương tham gia thật đông đảo cuộc biểu tình lúc 1 giờ trưa ngày 16 tháng 7 tới đây tại Quốc Hội để tăng uy thế cho cuộc tổng vận động."
Nghị quyết S. Res. 412 được 7 vị Thượng Nghị Sĩ thuộc Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hoà đồng bảo trợ:  Marco Rubio (Cộng Hoà, Florida), Ben Cardin (Dân Chủ, Maryland), John McCain (Cộng Hoà, Arizona), James Risch (Cộng Hoà, Idaho), Patrick Leahy (Dân Chủ, Vermont), Dianne Feinstein (Dân Chủ, California) và John Cornyn (Cộng Hoà, Texas).