Monday, January 23, 2017

NĂM DẬU NÓI CHUYỆN GÀ

NĂM DẬU NÓI CHUYỆN GÀ

 
Con Gà cục tác lá chanh
Con Lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con Chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
 
   Bốn câu thơ bình dân trên đã mô tả đúng cách nấu ăn của dân tộc ta tại thôn quê miền Bắc.  Con Gà được nhắc đến trước tiên có lẽ vì thịt Gà là một trong những món ăn quen thuộc , vừa ngon miệng và đầy đủ dinh dưỡng.Người dân Giao Chỉ chúng ta sành ăn đã biết biến chế ra nhiều món nào là: Gà rô ti, gà xào xã ớt, gà xối mỡ, gà ram mặn, gà nướng ngũ vị hương, gà nấu mắm, gà hấp muối, gà cà ri, cành gà chiên bơ, gà tiềm thuốc bắc … và còn nhiều kiểu nấu khác …
    

   Vào cuối thập niên 1950, tại Sàigòn có cuộc bút chiến giữa hai tờ nhật báo về vụ Gà Mỹ và Gà Ta. Vào thời điểm này, có phong trào nuôi gà Mỹ do bộ Canh Nông khuyến khích và hướng dẫn.  Gà được nuôi trong chuồng bằng lưới kẽm và cho ăn loại thực phẩm trộn sẵn.  Những độc giả tham gia cuộc chiến, và đã chia ra làm hai nhóm và với hai quan điểm khác nhau:

   Nhóm gà Mỹ: Cho rằng nuôi theo kiểu Hoa Kỳ khoa học hơn, sản xuất mau chóng, gà ít bị mắc bệnh, ăn hợp vệ sinh hơn.
   Nhóm gà Ta: Chủ trương nuôi gà theo phương pháp tự nhiên, thả chạy rong ngoài vườn để gà tự do bươi đất tìm thức ăn như côn trùng, giun dế..do đó thịt cứng và thơm ngon.
   Cuộc bút chiến càng ngày càng sôi nổi, có người còn ví von gà Mỹ như cô gái thị thành, trắng trẻo, mềm mại, trông hấp dẫn nhưng da thịt nhão, ăn mau chán.
   Ngược lại gà rẫy được ví như cô gái quê miệt vườn, tuy trông quê mùa nhưng da thịt cứng cáp, hương vị đậm đà, ngát thơm hương cốm.
   Trong lúc trận bút chiến đang hồi gay cấn, ông Kỹ Sư canh nông đặc trách chương trình chăn nuôi liền viết một bài lên tiếng trên mặt báo:  Cho rằng nuôi gà theo kiểu Mỹ lợi tức cao, thịt gà tinh khiết hợp tiêu chuẩn vệ sinh. Riêng ông, vì nặng lòng với quốc gia dân tộc, cá nhân ông vẫn thích ăn gà ta! Thế là cả hai phe lâm chiến đều vui vẻ, đồng ý hoà hợp dân tộc, sống chung hoà bình.
   Con gà rất gần gũi với giới bình dân Việt Nam. Vào dịp tết Nguyên Đán, người ta thường treo lên vách bức tranh gà sặc sở cho có vẽ mùa Xuân.
     Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
     Om xòm trên vách bức tranh gà.
   (Tú Xương)
   Trong đêm khuya thanh vắng tiếng gà gáy là đồng hồ báo thức bác nông dân để sửa soạn ra đồng, hoặc báo cho chú Tiểu trong chùa pha trà, nện chuông cúng Phật:
    Gió đưa cành trúc la đà
    Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

Hoặc:
    Canh gà điểm nguyệt, tiếng chày nện sương.

   Trên đường ra chợ lúc còn tinh sương, các cô gánh hàng cũng nghe văng vẳng tiếng gà bên tai:
    Sớm mai gà gáy ó o
    Chưa ra tới chợ­, đã lo ăn hàng.

   Thậm chí, cách trang điểm của đàn bà Việt Nam cũng liên hệ đến con gà.  Kiểu bới đầu có thả vòng  và chừa một chỏm tóc phía sau ót gọi là "bới tóc đuôi gà". Nơi nhãn hiệu xà bông Cô Ba của hãng Trương Văn Bền thời tiền chiến, có hình kiểu bới tóc này.  Cục bưu chính Đông Dương trước kia cũng đãphát hành một loại tem có hình cô Ba, với búi tóc đuôi gà.

   Chàng thanh niên chất phác, vì quá yêu cô thôn nữ, có thể đón đường cô gái để tỏ tình một cách táo bạo:
    Chị kia bới tóc đuôi gà
    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?
    ...Nhà tôi ở dưới đám dâu
    Ở bên đám dậu, đầu cầu ngó qua...

   Gà sống quanh quần sau hè, gần gủi với loài người, nên dễ nhận xét điệu bộ, diện mạo của gà.  Do đó, mọi việc hay dở đều lôi con gà ra đề ví von:
   Người có bộ mặt ngơ ngác gọi là “gà mở cửa mã”
   Người xơ xác gọi là “gà kẹt giỏ”
   Người tiều tuỵ gọi là “gà mắc nước”
   Kẻ ngất ngư gọi là “gà nuốt giây thun”
   Kẻ khù khờ gọi là “gà trống thiến”
   Kẻ nhát gan gọi là “gà phải cáo”
   Kẻ nhầm lẫn gọi là “trông gà hoá quốc”
   Kẻ bất tài gọi là “gà què ăn quẩn cối xay”
   Kẻ phản bội gọi là “gà nhà bôi mặt đá nhau”
Trước cảnh huynh đệ tương tàn, người ta hay khuyên bảo:
   Khôn ngoan đối đáp người ngoài
   Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

 Sau cùng, các người đàn bà đanh đá được tặng cho hỗn danh:
    Nữ kê tác quái, gà mái đá gà cồ.

   Gà thuộc loại hạ đẳng, chỉ dùng làm thực phẩm bình dân hàng ngày, không thể thết đãi hàng thượng khách.  Trong buổi tiệc lịch sử tại Bắc Kinh do Chủ tịch Mao Trạch Đông khoản đãi Tổng thống Nixon năm 1972, gồm hai mươi mốt món, nhưng không có món thịt Gà.  Quả thật người Trung Hoa rất tế nhị trong vấn đề ăn uống.
   Ở nước ta, Cụ nguyễn Đình Chiểu cũng rất gần sành nghi thức đãi tiệc.  Trong bài thơ Ông Quán, cụ Đồ đã chào hàng một cách thật hấp dẫn:
    Quán rằng thịt cá ê hề
    Khô lân chả phụng bộn bề thiếu đâu
    Kìa là thuốc lá ướp ngâu
    Trà ve tuyết điểm, rượu bầu cúc hương
    Để khi đãi khách giàu sang
    Đãi người danh vọng, đãi trang anh hùng.

Như vậy, trong thực đơn của cụ Đồ Chiểu cũng không có món thịt gà.

   Trong văn chương cũng như ngôn ngữ hằng ngày, con gà dù được nhân cách hoá cũng chỉ nói đến những người thường bình dân, còn những bậc chính nhân quân tử thì được ví như những con Phượng hoàng trên cao mà thôi:
    Phượng hoàng đậu nhánh cheo leo
    Sa cơ thất thế phải theo đàn gà
    Bao giờ mưa thuận gió hoà
    Thay lông đổi cánh lại ra Phượng hoàng.

   Vậy mọi người trong chúng ta có ai đã thấy được Phượng hoàng chưa?

   Xin chúc tất cả quý độc giả một năm Ất Dậu đầy hỷ sự.
   Cảm ơn Anh Trần Hội đã giúp em có những tài liệu này.

Nguyễn Phước Mộng Thiên
 
http://vanghe.blogspot.com/2016/12/nam-dau-noi-chuyen-ga.html

Wednesday, November 23, 2016

Monday, October 31, 2016

Thăng Long (II)

Thăng Long (II)

Nguyên tác: Nguyễn Du

昇龍其 (二)
阮攸 (北行雜錄)

古時明月照新城
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
猶是昇龍舊帝京
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
衢巷四開迷舊跡
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
管弦一變雜新聲
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
千年富貴供爭奪
Thiên niên phú quí cung tranh đoạt
早歲親朋平死生
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
世事浮沉休嘆息
Thế sự phù trầm hưu thán tức
自家頭白亦星星
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh.


Dịch Nghĩa

Mảnh trăng ngày trước soi xuống ngôi thành mới (thàng Thăng Long vừa được xây lại năm 1805).
Đây vẫn là Thăng Long, đế kinh của các triều vua xưa.
Đường xá dọc ngang, xóa mất dấu vết cũ.
Tiếng đàn sáo cũng đổi khác, lẫn nhiều âm thanh mới.
Nghìn năm phú quý vẫn làm mồi cho sự tranh đoạt.
Bạn bè lúc nhỏ, kẻ còn người mất.
Thôi, đừng than thở cho cảnh đời chìm nổi.
Mái tóc ta đây cũng bạc rồi.

THĂNG LONG II
Nguyễn Du (Bắc Hành Tạp Lục) 

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quí cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh.
-
Bản dịch của Quách Tấn -

THĂNG LONG (II)
Thành mới trăng xưa bóng tỏ mờ
Thăng Long nghìn trước chốn kinh đô
Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa
Ðiệu mới xô bồ nhịp trúc tơ
Danh lợi mồi ngon đua cướp giựt
Bạn bằng lớp trước sống lơ thơ
Nổi chìm thế sự đừng than nữa
Mái tóc mình đây cũng bạc phơ

- Bản dịch của Trần Nhất Lang -

THĂNG LONG (II)
Thành nay nằm giãi dưới trăng mơ
Trăng của Thăng Long nhớ cố đô
Đường phố ngổn ngang quên lối cũ
Sáo đàn xa lạ khác âm xưa
Thân bằng ngày trước bao người sống
Phú quí hôm nay lắm kẻ chờ
Hưng phế cõi đời khuôn tạo hóa
Thân già mái tóc trắng như tơ.

***
Bài dịch
của Dương Lam[vophubong]

Thăng Long thành mới - đế kinh xưa
Soi ánh trăng đêm bóng tỏ mờ ?
Phố cũ ngỗn ngang lòng khách lạ
Đàn nay dồn dập rối cung tơ ?
Ngàn năm phú quí người tranh đoạt
Một kiếp phù sinh bạn nỗi trôi
Thế sự thăng trầm đừng nói nữa!!!
Tóc ta sẽ bạc trắng ngay giờ .
Back to top
 
 

Saturday, October 29, 2016

Cảm hoài

Cảm hoài




Nguyên tác:
Đặng Dung (鄧容
感懷
世事悠悠奈老何
無窮天地入酣歌
時來屠釣成功易
運去英 雄飲恨多
致主有懷扶地軸
洗兵無路挽天河
國讎未報頭先白
幾度龍泉戴月磨


Phiên âm Hán-Việt:
Cảm hoài
Thế sự du du nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
Dịch nghĩa:
Việc đời dằng dặc mà ta đã già, biết làm thế nào?
Trời đất mênh mông đắm trong cuộc rượu hát ca.
Khi gặp thời, người làm nghề hàng thịt, kẻ câu cá cũng dễ thành công,
Lúc lỡ vận, bậc anh hùng đành phải nuốt hận nhiều.
Giúp chúa, những mong xoay trục đất lại,
Rửa vũ khí không có lối kéo tuột sông Ngân xuống.
Thù nước chưa trả được mà mái tóc đã bạc sớm,
Bao phen mang gươm báu mài dưới bóng trăng.

Bản dịch của Tản Đà
Việc đời man mác, tuổi già thôi!
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi.
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai!
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời.
Đầu bạc giang san thù chửa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.
Bản dịch của Phan Kế Bính
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.


-------------------------

Bản dịch của Dương Lam [vophubong] 



Trời xanh bao tuổi cũng già thôi

Đất hỏi ai say  chén cả cười ?
 
Vận đến tiểu nhân mừng đắc chí

Thời đi quân tử hận buồn trôi..

Phò vua  những muốn  xoay thành quách 

Giúp  nước khôn  mang vác cổng trời

Đầu bạc quốc thù còn chửa trả

Gươm mài mấy độ  bóng trăng soi...



Bản dịch củaTrần Nam Vương



Chớ trách ta sao tuổi đã già

Bên trời rượu uống vỗ bàn ca

Tiểu nhân vận đến thành công dễ

Hào kiệt thời đi mắt lệ nhoà...

Giúp chúa  những mong xoay thế cục

Phò vua khôn kéo nỗi thiên hà

Quốc thù tóc bạc còn đâu trả !

Mấy độ gươm mài bóng nguyệt sa...



Sunday, October 2, 2016

Em về chung một chuyến đò sang…

Em về chung một chuyến đò sang…
 
Lâu rồi chẳng ghé lại phuơng nam
Thăm bạn năm xưa - rượu uống tràn
Nốc cạn vầng trăng in đáy cốc
  Say hoài giếng mắt thẳm mênh mang...
Sông nào mây biếc xuôi dòng chảy
Bến đó tình xanh mãi đá vàng
  Mong một ngày rồi qua bến đó
Em về chung một chuyến đò sang…
Dương Lam
[voduonghonglam]