LỊCH SỬ
Tiệc chửa tàn canh,rượu
chửa say
Còn đây ta
hẹn khúc quanh nầy…
Quyết thề giữa trận vung tay kiếm
Cùng hẹn bên trời đạn xé mây[1
Đất Tống bao lần thành
quách đổ [2]
Trời
Nam muôn thủơ rạng kỳ đài
Sân nhà giặc đến toàn dân đánh
Hàm tử [3],Chi Lăng[3]…xác giặc đầy…
Duong Lam
[voduonghonglam]
[1]
Đạn pháo binh… bắn vòng cầu, xé mây đi…
[2] Lý Thường Kiệt đánh Tống, 1075-1076 Năm
1075,
Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với
vua Tống là
Đại Việt bị Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót
lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi,
và Lưu Di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập
thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với Đại Việt.
Vua Lý biết
tin, sai ông và Tôn Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh. Quân bộ gồm 60.000 người do
các tướng Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc
[8], Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn,
Vi Thủ An chỉ huy, tổng chỉ huy là Tôn Đản. Bộ binh tập trung
ngay ở các châu Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu rồi tràn sang
đánh các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, châu Tây Bình, Lộc Châu. Một cánh
quân khác đóng gần biên giới Khâm châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng, Như
Tích và Đề Trạo, "quân ta tới đâu như vào nhà trống không người"
[9].
Lý Thường Kiệt chỉ huy 40.000 quân thủy
cùng voi chiến đi đường biển từ châu Vĩnh An (
Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu Khâm, Liêm;
Tông Đản vây châu Ung. Ngày
30 tháng 12 năm 1075, quân Nam tiến chiếm thành
Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân mà không phải giao chiến một
trận nào. Ba ngày sau, 2 tháng 1 năm 1076,
Liêm Châu cũng thất thủ
[10].
Khi được tin hai châu Khâm, Liêm đã
mất, nhà Tống rất hoang mang, lo ngại, các tướng ở địa phương bối rối. Ti kinh
lược Quảng Nam tây lộ vội vã xin viện binh: 20.000 quân, 3.000 con ngựa, xin
thêm khí giới, đồ dùng và một tháng lương, và xin được điều động các dân khê
động, tất cả lấy dọc đường từ Kinh đến Quảng Tây. Để điều khiển quân được mau
chóng, ti ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía bắc
Ung
Châu[11].
Trong lúc bối rối, triều đình Tống đối
phó rất lúng túng. Vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi
Quế Châu và làm kinh lược sứ Quảng Tây.
Trên các mặt trận,
quân Lý hoàn toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến
lên phía Bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài
chừng 120 cây số, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu
tiến sang phía đông bắc, chiếm lấy Bạch Châu, dường như để chặn quân tiếp viện
của Tống từ phía đông tới. Hẹn ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đạo quân sẽ cùng
hội lại vây chặt lấy Ung Châu.
Ung Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng
Tô Giám cùng với 2.800 quân cương quyết cố thủ.
Đô giám Quảng Tây nhà Tống
là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Lý Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn
(nay thuộc thành phố
Nam Ninh, khu tự trị
Quảng Tây) phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận.
Tri
Ung Châu là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày. Sau
cùng quân Việt dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong
thành thiếu nước, không thể chữa được cháy. Cuối cùng quân Nam bắt dân Tống
chồng bao đất cao đến hàng trượng để họ trèo lên thành. Ngày thứ 42, thành bị
hạ, tướng chỉ huy Tô Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay quân Lý
[12]. Người trong thành không chịu hàng, nên bị
giết hết hơn 58.000 người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến
hơn 100.000
[12], tuy nhiên quân Lý cũng tổn thất đến một vạn
người và nhiều voi chiến
[11].
Lý Thường Kiệt làm cỏ xong thành Ung,
lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi đem quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Viên
quan coi Tân Châu, nghe thấy quân Nam kéo gần đến thành, liền bỏ thành chạy
trốn
[13]. Mục tiêu hoàn thành, Lý Thường Kiệt cho rút
quân về.
Lý Thường Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về nước.
Nhà Lý cho những người phương bắc đó vào khai phá vùng Hoan -
Ái (Thanh - Nghệ).
[3 Trận Hàm
Tử - Tây Kết Để phòng thủ mặt phía Nam của thành
Thăng Long, quân Nguyên dựng 2 căn cứ liền kề nhau ở hai bờ
sông Hồng, một ở Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử - nay ở Khoái Châu, Hưng Yên) và một ở
Chương Dương Độ (bến Chương Dương - nay ở Thượng Phúc, thuộc
Thường Tín,
Hà Nội). Tháng 5,
Trần Quang Khải dẫn quân tấn công đồng thời 2 căn
cứ này.
Toa Đô và
Ô Mã Nhi ở
Thanh Hoá,
Nghệ An giao chiến với quân Trần do
Trần Quang Khải chỉ huy mấy lần đều bị đẩy lui.
Lương thực gần cạn, tới mùa hè nóng bức, quân Nguyên không hợp thời tiết, hai
tướng bèn bỏ ý định truy tìm vua Trần mà vượt biển ra bắc để hội binh với
Thoát Hoan.
Trần Quang Khải thấy quân Nguyên rút ra bắc bèn
báo với vua Trần. Vua Trần cùng các tướng nhận định rằng: Quân Nguyên nếu còn
mạnh, ắt truy kích vua Trần từ hai mặt nam bắc; nay cánh phía bắc không tới,
cánh phía nam rút đi tức là đã mỏi mệt. Nhà Trần xác định đây là thời cơ phản
công
[41].
Trần Nhân Tông sai
Trần Nhật Duật làm chánh tướng, Chiêu Thành
Vương
[42] và
Trần Quốc Toản làm phó tướng đi cùng với Nguyễn
Khoái mang 5 vạn quân ra bắc đuổi đánh Toa Đô. Trong quân
Trần Nhật Duật có tướng người Trung Quốc của
nhà Tống cũ là Triệu Trung theo hàng.
Trần Nhật Duật gặp binh thuyền
Toa Đô ở bến Hàm Tử, bèn chia quân ra đánh. Hai bên chống nhau
ác liệt.
Toa Đô đi đường xa, giao chiến lâu ngày đã mỏi mệt, trông thấy
cờ hiệu Tống của Triệu Trung, lo lắng tưởng rằng
nhà Tống đã khôi phục sang giúp
Đại Việt. Nhóm quân người Hoa trong hàng ngũ quân Trần đều muốn
trả thù nên đánh rất hăng.
Trong khi đó quân Trần lại dùng kế ly gián, bắn
tên gắn giấy sang bên
quân Nguyên, nói rằng chỉ đánh người
Thát Đát chứ không đánh người Hoa. Điều đó khiến nhiều tướng sĩ
người Hoa trong quân Nguyên không tận lực chiến đấu hoặc trở giáo sang hàng quân
Trần.
Toa Đô bị thua to. Sau khi thua trận ở
Hàm Tử Quan,
Toa Đô vẫn không biết rằng
Thoát Hoan đã tháo chạy. Cánh quân
Toa Đô đóng ở sông
Thiên Mạc[12](đoạn
sông Hồng ở
Hưng Yên) và tìm cách liên lạc với ông. Được ít ngày,
Toa Đô biết tin quân
Thoát Hoan đã thất bại và rút chạy, bèn lui về
Tây Kết (
Khoái Châu).Ngày 24 tháng 6 năm 1285,
Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy quân đánh
Toa Đô.
Toa Đô và
Ô Mã Nhi thua, bỏ thuyền đi đường bộ ra phía biển. Trên đường
chạy,
Toa Đô bị quân
Đại Việt bao vây, sau cùng bị tướng
Vũ Hải của
nhà Trần chém đầu.
Ô Mã Nhi thì chạy thoát về
Thanh Hóa. Theo
Đại Việt sử ký toàn thư, vua
Trần Nhân Tông trông thấy thủ cấp của
Toa Đô thì cởi áo ngự phủ lên và nói "người làm tôi phải nên
như thế này" rồi sai người khâm niệm tử tế.
Sử liệu dẫn khác nhau về các
tướng tham chiến. Có tài liệu cho rằng
Trần Nhật Duật cùng
Trần Quốc Toản,
Nguyễn Khoái và Triệu Trung cùng đánh trận Hàm Tử
[41], có tài liệu dẫn rằng chỉ có
Trần Nhật Duật và Triệu Trung đánh Hàm Tử, còn
Nguyễn Khoái và
Trần Quốc Toản đánh trận
Tây Kết.
[43] [4 Trận Chi
Lăng Tháng 9 năm 1427, Liễu Thăng đi đường
Quảng Tây, Mộc Thạnh đi đường
Vân
Nam sang cứu Vương Thông. Đường Liễu Thăng đi dự tính từ Lạng Sơn, qua Xương
Giang để vào Đông Quan. Lê Lợi sai Lê Sát cùng Lê Văn Linh,
Lưu Nhân Chú mang 2 vạn quân và 5 voi trận lên ải Chi Lăng đón
đánh.
Ngày 8 tháng 10, cánh quân Liễu Thăng tiến vào Việt Nam. Lê Sát đặt
phục binh ở Chi Lăng rồi sai tướng giữ ải là Trần Lựu mang quân ra đánh nhử, giả
thua, trước tiên bỏ ải Pha Lũy về
ải Chi Lăng. Quân Minh hăng hái tiến lên giành ải Pha Lũy, rồi
tiến đến Chi Lăng. Ngày 20 tháng 9 (10/10 dương lịch), hai bên lại đụng nhau ở
Chi Lăng, Trần Lựu lại thua chạy. Liễu Thăng dẫn quân tiên phong tiến lên trước,
Lê Sát và Lưu Nhân Chú đổ ra đánh, chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên cùng hơn 1
vạn quân Minh.
nguon :Wikipedia